Chứng khoán

Trái phiếu (Bonds) | Chứng khoán nợ

Trái phiếu là gì? Nói theo cách đơn giản nhất, trái phiếu là một loại giấy tờ có giá, đại diện cho các nghĩa vụ nợ – do đó có thể xem đây là một hình thức vay mượn. Giả sử một công ty phát hành trái phiếu ra thị trường, số tiền họ nhận được từ việc phát hành trái phiếu chính là một khoản vay, và phải hoàn trả lại theo thời gian. Giống như các hình thức vay khác (như vay thế chấp, tín dụng,..), quá trình hoàn trả khoản vay sẽ đi kèm lãi suất định kỳ cho người cho vay. Về cơ bản, người mua trái phiếu là những người cho vay, người phát hành trái phiếu (có thể là doanh nghiệp, chính quyền, kho bạc nhà nước) là những người đi vay.

Khái niệm trái phiếu

Theo Luật chứng khoán Việt Nam, trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành.

Trái phiếu cũng có thể định nghĩa như sau: trái phiếu là một hợp đồng nợ dài hạn được ký kết giữa chủ thể phát hành (chính phủ hay doanh nghiệp) và người cho vay, đảm bảo một sự chi trả lợi tức định kỳ và hoàn lại vốn gốc cho người cầm trái phiếu ở thời điểm đáo hạn. Trên giấy chứng nhận nợ này có ghi mệnh giá của trái phiếu và tỷ suất lãi trái phiếu.

Những đặc trưng của trái phiếu

  • Mệnh giá (Par value):

Mệnh giá là giá trị danh nghĩa của trái phiếu được in ngay trên tờ phiếu, đại diện cho số vốn gốc được hoàn trả cho trái chủ tại thời điểm đáo hạn.

Ở Việt Nam, mệnh giá của trái phiếu được ấn định là 100,000đ và các mệnh giá khác là bội số của 100,000đ. Mệnh giá của trái phiếu được xác định phụ thuộc vào số tiền huy động trong kỳ và số trái phiếu phát hành.

MG = VHĐ / SPH

MG: Mệnh giá trái phiếu
VHĐ: Số vốn huy động
SPH: Số trái phiếu phát hành

Ví dụ: Công ty A muốn huy động 10 tỷ đồng bằng cách phát hành 10,000 trái phiếu, vậy mỗi trái phiếu có mệnh giá là:

MG = 10,000,000,000 / 10,000 = 1,000,000đ (một triệu đồng)

  • Tỷ suất lãi trái phiếu:

Tỷ suất lãi trái phiếu là lãi suất danh nghĩa (Coupon Interest Rates) của trái phiếu quy định mức lãi mà nhà đầu tư được hưởng hàng năm. Thông thường có hai phương thức trả lãi: 6 tháng/lần và 1 năm/lần.

Mỗi trái phiếu có ghi lãi suất của tổ chức phát hành cam kết sẽ thanh toán cho chủ sở hữu trái phiếu một số tiền lãi vào một ngày xác định và có thể theo định kỳ. Trái phiếu phát hành với một tỷ lệ lãi suất danh nghĩa được xác định bởi các điều kiện thị trường tại thời điểm chào bán trái phiếu. Lãi suất thường được công bố theo tỷ lệ phần trăm so với mệnh giá của trái phiếu. Lãi của trái phiếu có thể được quy định trả hằng năm, hay thanh toán nửa năm một lần.

Số tiền lãi mà nhà đầu tư nhận được hàng năm bằng lãi suất coupon, hay còn gọi là lãi suất cuống phiếu nhân (x) với mệnh giá trái phiếu.

Ví dụ: Công ty A nói trên quy định mức lãi trái phiếu là 9%/năm, như vậy hàng năm trái chủ nhận được số tiền lãi là:
9% x 1,000,000đ = 90,000đ

  • Giá mua:

Giá mua trái phiếu là khoản tiền thực tế mà người mua bỏ ra để có được quyền sở hữu trái phiếu. Giá mua có thể bằng mệnh giá (Par value), có thể cao hơn mệnh giá (Premium) hoặc thấp hơn mệnh giá (Discount). Tuy nhiên, dù giá mua là loại giá nào thì tiền lãi luôn được xác định theo mệnh giá trái phiếu. Và đến ngày đáo hạn, người nắm giữ trái phiếu sẽ được trả lại vốn gốc bằng với mệnh giá trái phiếu.

  • Kỳ hạn:

Kỳ hạn của trái phiếu là số năm mà theo đó người phát hành hứa hẹn đáp ứng những điều kiện  của nghĩa vụ. Kỳ hạn của một trái phiếu là ngày chấm dứt sự tồn tại của khoản nợ, người phát hành sẽ thu hồi trái phiếu bằng cách hoàn trả khoản vay gốc.

Theo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, trái phiếu có thời hạn từ 1 đến 5 năm được gọi là trái phiếu ngắn hạn; từ 5 đến 10 năm được gọi là trái phiếu trung hạn; trên 10 năm là trái phiếu dài hạn. Thời hạn này còn được gọi là thời gian đáo hạn của trái phiếu.

Ngày đáo hạn là ngày mà tổ chức phát hành thanh toán số vốn gốc và lãi cho chủ sở hữu trái phiếu.

Kỳ hạn trái phiếu có ý nghĩa quan trọng vì lợi tức trái phiếu phụ thuộc vào thời hạn của nó. Kỳ hạn cho biết khoảng thời gian người nắm giữ trái phiếu nhận được tiền lãi định kỳ và thời điểm đáo hạn mà tổ chức phát hành phải hoàn tiền gốc theo mệnh giá trái phiếu. Ngoài ra kỳ hạn trái phiếu càng dài, tính biến động giá trái phiếu càng lớn trước sự biến động của lãi suất thị trường. Như vậy, tính biến động của giá trái phiếu phụ thuộc vào kỳ hạn của trái phiếu.

  • Quyền mua lại:

Đối với loại trái phiếu có điều khoản chuộc lại (Callabale Bonds) cho phép tổ chức phát hành trái phiếu thu hồi trái phiếu và hoàn lại vốn gốc với mức giá dự kiến trước thời hạn thanh toán. Tổ chức phát hành sử dụng quyền này để bảo vệ họ không phải trả tiền lãi suất cao hơn đối với số tiền mà họ vay. Tổ chức phát hành thu hồi trái phiếu khi tỷ lệ lãi suất trên thị trường thấp hơn lãi suất của trái phiếu của tổ chức phát hành đã phát hành trước đó, và có thể phát hành trái phiếu mới với tỷ lệ lãi suất thấp hơn.

Đặc điểm của trái phiếu

  • Trái phiếu là một loại giấy nợ do chính phủ hay doanh nghiệp phát hành để huy động vốn dài hạn còn gọi là chứng khoán nợ, có kỳ hạn nhất định, cuối kỳ đáo hạn phải trả lại vốn gốc cho trái chủ.
  • Tỷ suất lãi trái phiếu được xác định trước và tính lãi trên mệnh giá. Tỷ suất lãi này là lãi coupon hay lãi cuống phiếu (Coupon Interest Rates), là lợi suất danh nghĩa của trái phiếu mà nhà đầu tư được hưởng hàng năm. Tùy theo loại trái phiếu mà tỷ suất này cố định hay thả nổi, hoặc có thể bằng không.
  • Khi công ty bị giải thể thanh lý tài sản, người cầm trái phiếu được ưu tiên trả nợ trước cổ đông.

Với những đặc điểm trên, trái phiếu doanh nghiệp được xem như loại chứng khoán có mức độ rủi ro thấp hơn cổ phiếu.

Điều kiện phát hành trái phiếu ở Việt Nam hiện nay

Đối với chủ thể phát hành là doanh nghiệp phải hội đủ những điều kiện sau đây:

  1. công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp nhà nước có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký phát hành tối thiểu là 10 tỷ đồng.
  2. Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký phát hành phải có lãi, đồng thời không có lỗ lũy kế đến năm đăng ký chào bán, không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên một năm.
  3. Có phương án phát hành, phương án sử dụng và trả nợ vốn thu được từ đợt phát hành trái phiếu.
  4. Có cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều kiện phát hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều kiện khác.

Lợi tức và rủi ro của trái phiếu

Nhà đầu tư mua trái phiếu được hưởng lợi tức từ các nguồn sau:

  • Tiền lãi định kỳ:

Tiền lãi định kỳ thường được trả một năm/lần hay nửa năm/lần. Số tiền lãi này được tính trên cơ sở lãi suất cuống phiếu (Coupon Interest Rates) được quy định trước khi nhân (x) với mệnh giá trái phiếu.

C = c% x F

Ví dụ: Trái phiếu mệnh giá 1 triệu đồng, lãi coupon 9%, vậy hàng năm trái chủ nhận được số tiền lãi là:
C = 9% x 1,000,000đ = 90,000đ

  • Chênh lệch giá:

Chênh lệch giá là phần chênh lệch giữa giá bán và giá mua trái phiếu với loại trái phiếu có tính thanh khoản cao, nhà đầu tư sẽ bán trái phiếu khi giá trái phiếu tăng lên và được hưởng chênh lệch giá.

  • Lãi của lãi:

Trong trường hợp nhà đầu tư lãnh tiền lãi định kỳ và tái đầu tư ngay, tiền lãi này sẽ sinh ra lãi gọi là lãi tái đầu tư. Như vậy, sau một số năm nắm giữ trái phiếu, số tiền lãi coupon được tái đầu tư sẽ mang lại cho trái chủ một khoản lợi tức tiềm năng bao gồm lãi coupon và lãi tái đầu tư.

  • Rủi ro của đầu tư trái phiếu:

Trên thị trường chứng khoán, trái phiếu được đánh giá là loại hàng hóa ít rủi ro nhất. Tuy nhiên, đầu tư vào trái phiếu vẫn có rủi ro, mặc dù mức độ là ít hơn so với rủi ro cổ phiếu. Sau đây là một số rủi ro điển hình có thể xảy ra đối với trái phiếu.

1. Rủi ro lãi suất

Giá của một trái phiếu điển hình sẽ thay đổi ngược chiều với sự thay đổi của lãi suất: khi lãi suất tăng thì giá trái phiếu giảm, khi lãi suất giảm thì giá trái phiếu sẽ tăng.

2. Rủi ro tái đầu tư

Giả định rằng các dòng tiền nhận được từ trái phiếu được tái đầu tư. Khoản thu nhập bổ sung từ việc tái đầu tư đó còn được gọi là lãi của lãi, phụ thuộc vào mức lãi suất hiện hành tại thời điểm tái đầu tư, cũng như vào chiến lược tái đầu tư.

Đó là rủi ro khi lãi suất để tái đầu tư các dòng tiền giữa kỳ bị giảm xuống. Rủi ro này sẽ lớn hơn đối với những thời kỳ nắm giữ dài hơn.

Cần lưu ý rằng, rủi ro lãi suất và rủi ro tái đầu tư có những hiệu ứng triệt tiêu nhau. Rủi ro lãi suất là rủi ro lãi suất tăng làm giảm giá trái phiếu, còn rủi ro tái đầu tư là rủi ro lãi suất giảm.

3. Rủi ro thanh toán

Rủi ro thanh toán còn gọi là rủi ro tín dụng, là rủi ro mà người phát hành một trái phiếu có thể vỡ nợ, tức là mất khả năng thanh toán đúng hạn các khoản lãi và gốc của đợt phát hành. Trái phiếu chính phủ được coi là không có rủi ro thanh toán, trái phiếu công ty khác nhau sẽ có mức độ rủi ro khác nhau.

Rủi ro thanh toán được xác định bằng mức xếp hạng chất lượng do các công ty xếp hạng tín nhiệm ấn định.

Tuy nhiên, mức xếp hạng tín nhiệm có thể thay đổi sau khi công ty phát hành, hay nói các khác là rủi ro thanh toán có thể thay đổi nhanh hơn sự đánh giá của các tổ chức đánh giá chuyên nghiệp.

4. Rủi ro lạm phát

Rủi ro lạm phát, còn gọi là rủi ro sức mua, phát sinh do sự biến đổi trong giá trị của các dòng tiền mà một chứng khoán đem lại, do lạm phát được đo lường bằng sức mua.

Trái phiếu có lãi suất thả nổi có rủi ro lạm phát ở mức thấp hơn, bởi vì việc thả nổi lãi suất đã làm triệt tiêu rủi ro về lãi suất do trong tình trạng lạm phát, lãi suất thường có khuynh hướng tăng cao. Mức độ rủi ro ở trái phiếu này chỉ xảy ra ở việc lạm phát làm xói mòn dần giá trị của trái phiếu.

5. Rủi ro tỷ giá hối đoái

Đối với trái phiếu được ghi giá mua bằng ngoại tệ, nhưng khi đáo hạn lại thanh toán bằng Việt Nam đồng, mà đồng Việt Nam lại giảm giá so với đôla Mỹ, thì người đầu tư sẽ nhận được ít đôla Mỹ hơn. Đó là rủi ro tỷ giá.

Trong trường hợp ngược lại, đồng Việt Nam tăng giá so với đôla Mỹ (giả định), thì người đầu tư sẽ có lợi.

6. Rủi ro thanh toán

Rủi ro thanh toán tùy thuộc vào việc trái phiếu có dễ dàng được bán theo giá trị hay gần với giá trị không. Thước đó chủ yếu đối với tính thanh khoản là độ lớn khoảng cách giữa giá hỏi mua và giá chào bán trái phiếu mà nhà giao dịch niêm yết lên. Nếu người đầu tư dự định nắm giữ trái phiếu cho tới khi đáo hạn thì rủi ro này không quan trọng lắm.

Các nhân tố ảnh hưởng giá trái phiếu

Nói chung, giá thị trường của bất cứ loại chứng khoán nào cũng phụ thuộc vào cung và cầu, vì thế khi muốn biết điều gì quyết định giá trái phiếu, chúng ta chỉ cần tìm hiểu nhân tố nào đứng sau cung và cầu.

  • Khả năng tài chính của người cung cấp trái phiếu

Cung cấp trái phiếu là một chức năng của người đi vay nhằm giải quyết vấn đề vốn. Do đó nhà đầu tư rất quan tâm đến khả năng thanh toán lãi và vốn gốc của người cung cấp trái phiếu.

Nếu có những biến động bất lợi về khả năng tài chính của chủ thể phát hành, thì lập tức giá trái phiếu đó sẽ tụt giảm trên thị trường chứng khoán. Mặc dù lãi suất trái phiếu có vẻ hứa hẹn nhưng độ rủi ro hàm chứa lại cao hơn.

  • Thời gian đáo hạn

Một trái phiếu có thời hạn đáo hạn càng gần thì giá của nó càng tăng trên thị trường bởi vì độ rủi ro càng thấp. Ví dụ: một trái phiếu sẽ được thanh toán theo đúng mệnh giá vào cuối năm thứ 10 kể từ ngày phát hành, nếu không có biến động xấu về khả năng tài chính của đơn vị phát hành và lãi suất thị trường bình ổn, thì giá cổ phiếu kể từ năm thứ 5 trở đi sẽ có khuynh hướng càng cao so với giá các năm đầu tiên. Trên thực tế, người ta gọi hiện tường này là “kéo giá tới thời hạn”.

  • Dự kiến về lạm phát

Nếu lạm phát có dự kiến tăng thì các chứng khoán có lãi suất cố định trả theo lãi trái phiếu chỉ được thanh toán theo danh nghĩa, và như vậy sẽ kém hấp dẫn hơn các tài sản khác có khả năng loại trừ yếu tố lạm phát. Dẫn đến kết quả là giá thị trường của các chứng khoán có lãi suất cố định bị giảm và điều này cũng buộc phải tăng lãi cho các chứng khoán đó, phần lãi tăng này sẽ  đền bù cho thiệt hại của những người giữ trái phiếu trong tương lai bị ảnh hưởng của lạm  phát.

Sự vận động của giá trái phiếu với các thời hạn khác nhau sẽ vẽ nên một phác thảo về thị trường trái phiếu và khả năng diễn  biến của lạm phát.

  • Biến động lãi suất thị trường

Lãi suất thị trường là một yếu tố cực kỳ quan trọng trong việc định giá của các chứng khoán có lãi suất cố định. Nếu lãi suất bắt đầu  tăng thì lợi tức đối với các trái phiếu đang tồn tại chắc chắn thay đổi. Trong trường hợp này, vốn sẽ chảy vào thị trường nào hứa hẹn lợi nhuận cao hơn. Như vậy, giá của trái phiếu có lợi tức cố định sẽ giảm. Nhìn ở khía cạnh khác, nếu  giá  trái  phiếu giảm do người ta dự đoán lạm phát tăng, thì việc tăng lãi suất (chính việc này làm giảm giá trái phiếu) có thể được coi là dấu hiệu của chính phủ quyết định đẩy lùi lạm phát. Ảnh hưởng tiêu cực của việc tăng lãi suất được đền bù bởi tác động tích cực của triển vọng lạm phát được cải thiện.

  • Thay đổi tỷ giá hối đoái

Yếu tố này ảnh hưởng đến các loại trái phiếu được thanh toán  bằng nội  tệ  hoặc bằng đồng ngoại  tệ. Ví dụ,  đồng đôla Mỹ có giá trị  tăng cao hơn so với  đồng bảng Anh thì sẽ làm tăng giá trị của loại trái phiếu được thanh toán bằng đôla Mỹ.

Chia sẻ bài viết:

Leave a Reply

Hãy là người đầu tiên bình luận cho bài viết này!

Thông báo cho tôi khi có
avatar
1000
wpDiscuz