Thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán Nhật Bản

Thị trường chứng khoán Nhật Bản là một trong ba thị trường chứng khoán lớn nhất thế giới, cho thấy hình ảnh của một cường quốc tư bản số một Châu Á. Nhắc đến thị trường chứng khoán Nhật Bản không thể không nói đến Sở giao dịch chứng khoán Tokyo (Tōshō – 東証 hay TSE/TYO), đây là Sở giao dịch chứng khoán lớn nhất Nhật Bản nói riêng và Châu Á nói chung.

Lịch sử thị trường chứng khoán Nhật Bản

Nhật Bản có thị trường chứng khoán từ năm 1875, sau chiến tranh thế giới thứ hai có thời kỳ giải tán Sở giao dịch chứng khoán. Tháng 5/1948, dựa theo cách làm của Mỹ thực hiện Luật giao dịch chứng khoán. Năm 1949, mở lại Sở giao dịch chứng khoán. Thị trường giao dịch chứng khoán hoạt động trở lại và phát triển khá mạnh trong thời kì Nhật Bản có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Từ năm 1955 đến năm 1961, kinh tế Nhật có hai lần tăng trưởng kinh tế mạnh, số cổ phiếu Dow Jones của Sở giao dịch chứng khoán Tokyo từ năm 374 tăng lên 1,549. Tổng số giá cổ phiếu giao dịch năm 1955 là 3.8 tỷ; năm 1961 đã lên tới 48,3 tỷ, tăng 14 lần. Tháng 4/1966, trái phiếu công cộng và trái phiếu công ty (đã ngừng giao dịch sau chiến tranh thế giới thứ 2) lại được đưa ra thị trường của 2 Sở giao dịch chứng khoán Đông Bắc và Osaka, chứng tỏ thị trường chứng khoán Nhật đã phát triển sang thời kỳ hoàn toàn mới. Sau thập kỷ 60, chính phủ Nhật phát hành phiếu công trái, quy mô thị trường trái phiếu được mở rộng.

Nhật Bản có 8 Sở giao dịch chứng khoán, gần 200 công ty chứng khoán phân bố ở các nơi như Tokyo, Osaka, Nayoga; Sở giao dịch chứng khoán Tokyo là thị trường cổ phiếu, trái phiếu lớn nhất của Nhật, chiếm 85% tổng số giao dịch cổ phiếu ở Nhật, cũng là thị trường giao dịch cổ phiếu lớn thứ ba trên thế giới (Forbes).

Hình ảnh bên trong Sở giao dịch chứng khoán Tokyo năm 1973
Hình ảnh bên trong Sở giao dịch chứng khoán Tokyo năm 1973

Trên thị trường chứng khoán Nhật Bản, có 5 loại cổ phiếu được giao dịch là: cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu không có quyết nghị, cổ phiếu được phân phối sau, cổ phiếu trả lại.

Trái phiếu ở Nhật, căn cứ vào chủ thể phát hành, được chia làm 6 loại: trái phiếu nhà nước, trái phiếu địa phương, trái phiếu đặc biệt, trái phiếu công ty, trái phiếu tài chính, trái phiếu ngoài nước.

Từ năm 1970, Sở giao dịch chứng khoán Tokyo đã cho phép các công ty đầu tư Nhật mua cổ phiếu nước ngoài, và vốn đầu tư của nước ngoài mua cổ phiếu của Nhật Bản đã tăng lên nhanh chóng. Trong một thời gian ngắn số bán ra đã nhiều hơn số mua vào, chứng tỏ người nước ngoài đã tăng trưởng đầu tư vào Nhật Bản. Nguyên nhân của tình hình này là nền kinh tế đã phát triển nhanh, có nhiều hàng xuất khẩu đứng đầu thế giới, chính phủ nới lỏng toàn diện chế độ quản lý ngoại tệ, các xí nghiệp Nhật Bản có sức hấp dẫn lớn do thu được nhiều lợi nhuận, vốn quốc tế đầu tư phân tán đã thúc đẩy nước ngoài chảy vào thị trường chứng khoán Nhật Bản.

Thị trường chứng khoán Nhật Bản phát triển vì có những ưu thế sau đây:

  • Tiềm lực thị trường lớn, kinh tế phát triển nhanh, xuất siêu liên tục.
  • Vị trí đồng Yen Nhật trên thị trường tiền tệ thế giới ngày càng cao.
  • Lãi suất trái phiếu quá thấp, tiền vốn Nhật Bản quá thừa.
  • Chính phủ thực hiện chính sách nới lỏng và bớt can thiệp vào nền kinh tế.

Cuối năm 2010:
– Vốn hóa thị trường: 3,827 tỷ USD
– Giá trị giao dịch: 3,787 tỷ USD
– Số công ty niêm yết: 2,292 công ty.

Hoạt động của thị trường chứng khoán Nhật Bản

Thị trường chứng khoán Nhật Bản có từ ngày đầu Minh Trị. Giai đoạn đầu, thị trường chứng khoán Nhật Bản chủ yếu buôn bán trái phiếu do Nhà nước phát hành. Đến năm 1890 mới buôn bán cổ phiếu. Năm 1943, 11 sàn giao dịch chứng khoán trên toàn nước Nhật hợp thành một công ty bán công gọi là sàn giao dịch chứng khoán Nhật Bản. Năm 1945 đến 1948, Sở giao dịch này bị đóng cửa, việc buôn bán chứng khoán diễn ra bên ngoài văn phòng của công ty và chợ đen. Năm 1948, Luật giao dịch chứng khoán được ban hành, dựa theo mô hình luật chứng khoán của Mỹ và sửa đổi cho phù hợp với thực trạng của nền kinh tế Nhật. Nhật đưa ra 3 nguyên tắc cơ bản cho việc điều hành thị trường chứng khoán, đó là:

  • Thứ nhất, mọi giao dịch chứng khoán phải được đăng ký ở nơi giao dịch.
  • Thứ hai, giao dịch chứng khoán phải tập trung ở Sở giao dịch.
  • Thứ ba, không cho phép thực hiện giao dịch tương lai.

Tháng 4 năm 1949, Sở giao dịch chứng khoán Tokyo được thành lập. Sở giao dịch chứng khoán Tokyo (TSE) là Sở giao dịch chứng khoán ở thủ đô Tokyo, Nhật Bản. Hiện tại sở giao dịch này niêm yết 2,292 công ty với tổng khối lượng vốn hóa thị trường hơn 3,827 tỷ USD. TSE hoạt động từ 9 giờ đến 11 giờ sáng và  12 giờ 30 đến 15 giờ chiều.

Nikkei 225 là chỉ số thị trường chứng khoán cho sàn giao dịch chứng khoán Tokyo (Tokyo Stock Exchange – TSE), đây là chỉ số quan trọng nhất của thị trường chứng khoán châu Á, bao gồm 225 cổ phiếu Blue-chip đại diện cho các công ty ở Nhật, và là một chỉ số tính theo giá (đơn vị đồng Yen). Chỉ số này gần giống chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones ở Mỹ.

Các chỉ số của thị trường chứng khoán Nhật Bản

Chỉ số Nikkei 225: là chỉ số tổng hợp cổ phiếu với quyền số giá cả của 225 cổ phiếu thuộc sở giao dịch chứng khoán Tokyo và 250 cổ phiếu thuộc Sở giao dịch Osaka do Thời báo kinh tế Nhật tính toán và công bố. Chỉ số này còn được gọi là chỉ số Nikkei Dow vì phương pháp tính của nó như phương pháp tính các chỉ số Dow Jones.

Chỉ số TOPIX: chỉ số này tính cho tất cả chứng khoán quan trọng niêm yết tại thị trường chứng khoán Tokyo. Thời điểm gốc là 04/01/1968 với giá trị gốc là 100.

Chia sẻ bài viết:

Leave a Reply

Hãy là người đầu tiên bình luận cho bài viết này!

Thông báo cho tôi khi có
avatar
1000
wpDiscuz