Chính trị, Kinh tế

Thế nào là một quốc gia hạnh phúc?

Một quốc gia hạnh phúc là quốc gia mà ở đó người dân được quyền tự do chính trị, được quyền bầu ra chính phủ mà người dân tin rằng sẽ bảo vệ các quyền tự do kinh tế. Tại đó, con người được cởi trói khỏi những gọng kìm, được tự do đưa ra quyết định của riêng mình, theo đuổi lý tưởng của bản thân, theo đuổi những ước mơ hằng ấp ủ, và có thể sống một cuộc sống mà mình mong muốn.

Sự thịnh vượng: yếu tố đầu tiên làm nên một quốc gia hạnh phúc

Một quốc gia không hạnh phúc là một quốc gia nghèo đói, lạc hậu và người dân luôn bị hạn chế tự do về chính trị. Nghèo đói sinh ra đủ mọi tệ nạn xã hội, các quốc gia nghèo luôn sinh ra đủ mọi loại độc tài. Với tôi, một quốc gia đáng sống là nơi các cá nhân có một cuộc sống thịnh vượng và không bị xâm phạm các quyền tự do.

Không phải ngẫu nhiên mà các nước Bắc Âu với sự thịnh vượng bậc nhất cũng là những nước đứng đầu trong bảng xếp hạng về mức độ hạnh phúc của World Happiness; cũng không phải ngẫu nhiên mà những nền kinh tế yếu kém luôn là những quốc gia có chỉ số hạnh phúc thấp nhất thế giới[1]. Bạn nghĩ đâu mới là một quốc gia hạnh phúc: các nước Bắc Âu giàu có, mức sống cao, tuổi thọ cao hay một Venezuela nghèo đói bới rác mà ăn[2]?

Mỗi người trong chúng ta đều có quan điểm riêng về thứ làm nên một quốc gia hạnh phúc, từ đơn giản đến phức tạp. Chúng ta có thể viết ra hàng trang giấy cho những điều mà mình nghĩ là cần thiết, nhưng vấn đề ở đây là làm sao để đảm bảo cho những điều đó được thực hiện.

Một quốc gia ấm no, hạnh phúc. Phải rồi, phải ấm no trước thì mới nghĩ đến việc tìm kiếm hạnh phúc cho bản thân. Chỉ có giải quyết xong vấn đề kinh tế thì con người mới có thể nghĩ đến những việc khác. Cho nên, theo tôi, sự thịnh vượng sẽ làm nên một quốc gia hạnh phúc.

Và làm sao để một quốc gia trở nên thịnh vượng?

Người Việt thường đổ lỗi cái nghèo của mình cho số phận. Được thôi, nếu bạn quá bi quan về khả năng của bản thân. Nhưng một quốc gia nghèo thì là chuyện khác, đó không còn vấn đề của số phận, mà là từ các chính sách. Khi được hỏi rằng “điều gì để một quốc gia trở nên giàu có?”, nhiều người thường trả lời rằng do tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, văn hóa hay con người. Nhưng không, Venezuela có trữ lượng dầu thô lớn nhất thế giới[3] nhưng đâu có giàu, Nhật Bản nghèo tài nguyên thiên nhiên và động đất suốt nhưng lại rất thịnh vượng; Hàn Quốc và Triều Tiên là hai quốc gia tương đồng về mọi mặt nhưng rõ ràng nền kinh tế Hàn Quốc mạnh hơn hẳn Triều Tiên[4]. Tại sao lại như vậy? Nếu ai đã từng đọc qua quyển Nguồn gốc của cải của các quốc gia của Adam Smith sẽ hiểu rằng tự do kinh tế mới là chìa khóa dẫn đến sự thịnh vượng, hòa bình và hạnh phúc.

Thực hiện tự do kinh tế luôn là cách làm cần thiết để vực dậy nền kinh tế của một quốc gia. Tự do kinh tế vốn dĩ là “liều thuốc kích thích” cho mọi nền kinh tế. Như chúng ta đã biết, trong thời kỳ chuyển tiếp của nền kinh tế Việt Nam, chính phủ thực hiện cơ chế thị trường (mặc dù nó không hoàn hảo) và cho phép người dân tham gia kinh doanh đã giúp nền kinh tế Việt Nam chuyển biến một cách mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng chóng mặt lên đến 9.54% (1995) và 9.34% (1996)[5].

Lịch sử thế giới cũng cho thấy tất cả mọi quốc gia chống lại thị trường tự do đều phải nhận lấy một nền kinh tế thất bại, từ sự sụp đổ của Liên Xô hùng mạnh, toàn bộ Đông Âu, Đông Đức thập niên 90, cho đến sự sụp đổ của Hy Lạp và hiện nay là Zimbabwe, Venezuela. Một quốc gia sụp đổ về kinh tế kéo theo sự sụp đổ của thể chế chính trị không thể nào là một quốc gia hạnh phúc. Có một điểm chung là những quốc gia này đều có chỉ số tự do kinh tế rất thấp.

Từ đó, tôi xin khẳng định rằng tự do kinh tế sẽ là yếu tố cốt lõi để hình thành một quốc gia hạnh phúc cho mọi người dân.

Thế nào là tự do kinh tế?

“Tự do kinh tế, trong hình thái cao nhất, cho người dân quyền tư hữu tuyệt đối, thực hiện đầy đủ các quyền tự do lưu thông về nhân công, tiền vốn, hàng hóa, và hoàn toàn không có sự chèn ép hay giới hạn tự do kinh tế ngoại trừ những giới hạn tối thiểu cần thiết để họ bảo vệ và duy trì sự tự do đó”[6].

Một cách dễ hiểu, tự do kinh tế cho phép các cá nhân tự do quyết định mọi nguồn lực mình nắm giữ, đồng thời tôn trọng quyền tự do và nguồn lực của người khác. Quyền tự do kinh tế là quyền cho phép con người tự do phát triển và trở nên thịnh vượng mà không có sự can thiệp từ chính phủ hoặc cơ quan tài chính. Mọi cá nhân đều có quyền bảo vệ và được bảo vệ cho nguồn nhân lực, lao động và tài sản của mình. Nói cách khác, đó là việc giảm thiểu bàn tay của chính phủ vào nền kinh tế và cho phép thị trường được tự do hoạt động. Đến đây, nhiều người sẽ thắc mắc rằng tự do kinh tế sẽ mang lại lợi ích gì. Vâng, tự do kinh tế không phải là một lý thuyết suông, nó đã được áp dụng rất thành công tại các nước tư bản.

Tự do kinh tế sẽ giúp tăng trưởng kinh tế và mang đến sự thịnh vượng cho tất cả mọi người

Như ví dụ nêu trên, Việt Nam sau khi có những tiến bộ về tự do kinh tế đã đạt được chỉ số tăng trưởng kinh tế vô cùng ấn tượng. Không thể chối cãi rằng sự thành công đó có được là nhờ vào “phép nhiệm mầu” mà thị trường tự do mang lại. Nếu điều đó vẫn chưa đủ để thuyết phục bạn tin rằng tự do kinh tế là tốt cho nền kinh tế thì hãy nhìn vào biểu đồ dưới đây.

Tự do kinh tế và tăng trưởng kinh tế, 1990 - 2010. Nguồn: Viện Fraser
Tự do kinh tế và tăng trưởng kinh tế, 1990 – 2010. Nguồn: Viện Fraser.

Trong 20 năm từ 1990 – 2010, những quốc gia có nền kinh tế tự do nhất tăng trưởng nhanh gấp hai lần những quốc gia có mức độ tự do kinh tế thấp nhất. Nói cách khác, mức độ tự do kinh tế càng cao thì tốc độ tăng trưởng kinh tế càng tăng nhanh, người dân quốc gia đó càng trở nên thịnh vượng.

Tự do kinh tế góp phần bảo vệ môi trường

Việc này có thể gây ngạc nhiên với một số người nhưng nó là sự thật. Quyền tư hữu khi càng được bảo vệ sẽ càng khuyến khích việc bảo vệ môi trường. Bởi đơn giản, khi tài nguyên thuộc sở hữu chung thì động lực cho việc bảo tồn sẽ bị loại bỏ. Nhưng nếu tài nguyên thuộc sở hữu của cá nhân, họ sẽ biết cách giữ gìn và tự giác bảo tồn nó vì trong tương lai nguồn tài nguyên này sẽ ngày một có giá trị. Ông Richard Lyndell Stroup, nhà môi trường học và là giáo sư giảng dạy kinh tế tại trường Đại học Bang Bắc Carolina, đã viết rằng: “Khi các quyền tư hữu được bảo vệ, 90% dân số được tiếp cận với nước sạch; nhưng tại những quốc gia có mức độ tư hữu thấp thì con số này chỉ 60%”[7].

Đồng thời, Heritage Foundation cũng chỉ ra rằng những quốc gia đứng đầu trong báo cáo môi trường (EPI) từ trường Đại học Yale cũng là những quốc gia đảm bảo quyền tư hữu của người dân ở mức cao nhất[8].

Bạn không thể nào hạnh phúc trong một quốc gia có môi trường ô nhiễm, đúng không?

Tự do kinh tế sẽ giảm nguy cơ chiến tranh, giúp xây dựng nền hòa bình

Một quốc gia chiến tranh liên miên thì làm sao mà mang hạnh phúc cho người dân được. Làm sao để mang lại hòa bình cho nhân loại? Nhiều người thường trả lời suông rằng: cần có sự khoan dung, từ bỏ lòng tham, từ bỏ tranh quyền, đoạt lợi; hay phải giáo dục con người biết yêu thương lẫn nhau, không tranh chấp, hơn thua về lý tưởng chính trị, tôn giáo,… Nhưng thực tế, nguyên nhân dẫn đến chiến tranh không xuất phát từ lý tưởng, mà là từ câu chuyện kinh tế.

Một quốc gia bảo hộ kinh tế bao nhiêu thì sẽ làm tăng nguy cơ xảy ra xung đột cho chính quốc gia đó bấy nhiêu. Thế kỷ 19, vua Tự Đức cấm cản hoạt động ngoại thương với phương Tây[9], sau đó chiến tranh Pháp – Việt nổ ra là minh chứng lịch sử dễ thấy nhất. Dù các quốc gia nhân danh lý tưởng tự do hay cộng sản, hai kỳ chiến tranh thế giới trong thế kỷ trước vốn dĩ là để phân chia nguồn lực. Sau này, với việc hình thành các tổ chức thương mại, mâu thuẫn giữa các quốc gia dần được xóa bỏ. Các nước tiến hành giao thương và trở thành đối tác của nhau, thắt chặt tình hữu nghị. Rõ ràng, rất khó để tiến hành chiến tranh với đối tác của mình hơn là với một quốc gia chẳng có liên hệ gì. Vì thế, chỉ có thực hiện tự do thương mại, tự do kinh tế mới có thể mang lại hòa bình cho nhân loại. Có hòa bình thì mới mang lại hạnh phúc cho nhân dân.

Tự do chính trị: yếu tố thứ hai làm nên một quốc gia hạnh phúc

Một nền kinh tế thị trường không hoàn hảo khi nó chỉ mở cửa thị trường tự do cho hàng hóa mà không có sự tự do cho các lý tưởng. Việc cho phép tự do tư duy sẽ giúp nền kinh tế cởi mở và năng động hơn. Tôi sẽ không phân tích việc nên ưu tiên tự do kinh tế hay tự do chính trị trong bài này vì nó đã được phân tích trong bài Tự do chính trị và tự do kinh tế có mối quan hệ với nhau không?. Tuy vậy, không một quốc gia nào có mức độ tự do dân sự và tự do chính trị cao mà không sử dụng chủ nghĩa tư bản và thành phần kinh tế tư nhân làm chủ đạo trong cơ cấu kinh tế[10]. Lịch sử nhân loại cũng đã chứng minh sự sụp đổ về kinh tế của một quốc gia cũng sẽ kéo theo sự sụp đổ về thể chế chính trị. Về mặt lịch sử lẫn logic, tự do chính trị không thể tách rời khỏi tự do kinh tế.

Việc mất tự do chính trị sẽ kìm hãm cả dân tộc về mọi mặt, và căn nguyên đều xuất phát từ sự độc tài của nhà lãnh đạo. Có rất nhiều loại độc tài, dù cho sự độc tài đó viện dẫn từ việc người lãnh đạo nghĩ rằng lý tưởng của họ là tốt nhất thì với tôi vẫn không hề tốt cho sự phát triển. Tôi xin trích một đoạn mà tôi rất tâm đắc trong lá thư của ông Trần Huỳnh Duy Thức gửi TBT Nguyễn Phú Trọng ngày 19/12/2016:

“Tôi có thể hiểu được khao khát của ông về một chính quyền đạo đức. Nhưng lịch sử dân tộc và thế giới đã chứng minh rằng đức trị không tạo ra được các nhà nước và xã hội đạo đức, mà còn kìm hãm các dân tộc ở mãi trong nền Kinh tế nông nghiệp lạc hậu. Pháp trị là đặc trưng của Thời đại Kinh tế công nghiệp. Còn pháp quyền là đặc trưng của Thời đại Kinh tế tri thức. Không thể sử dụng đức trị để thành công trong Thời đại mới đang hình thành mạnh mẽ này được”.

Đoạn này ông Thức muốn nói lên vai trò của nhà nước pháp quyền nhưng tôi sẽ dùng để nói về vấn đề đức trị. Đạo đức và các quy chuẩn của nó vốn do con người đặt ra, việc dùng chuẩn mực đạo đức của mình để phán xét âu cũng là một sự áp đặt tư duy của mình lên người khác. Vì thế, theo tôi, đức trị cũng là một dạng độc tài trị.

Tôi là một người phản đối chủ nghĩa sùng bái cá nhân, nên tôi cũng quan niệm rằng không một cá nhân xuất chúng nào có thể đưa ra quyết định cho toàn bộ những người còn lại. Phải chăng, thành tựu của những con người vĩ đại luôn bị thổi phồng để phục vụ một mục đích nào đó, và giáo dục luôn được dùng làm công cụ sản xuất ra những đứa trẻ một lòng trung thành với những gì được dạy.

Khi con người có quyền tự do suy nghĩ, thảo luận và cất lên tiếng nói của mình thì ở đó chúng ta được sống; nếu không có những quyền tự do căn bản đó, chúng ta chẳng khác gì loài vật vô tri vô giác đang tồn tại trên thế giới này. Tôi tin rằng đa nguyên, mâu thuẫn cũng là một động lực cho phát triển, tự do chính trị là thứ cởi trói cho người dân được tự do theo đuổi hạnh phúc cá nhân mà không bị kìm kẹp bởi các luật lệ và quy tắc.

Kết luận

Nhưng sẽ thật ngây thơ nếu người dân hi vọng có được một chính phủ tốt, vì dân, vì nước; người dân chỉ có thể sử dụng quyền tự do chính trị để lựa chọn một chính phủ ít xấu hơn và ít can thiệp vào đời sống người dân.

Thế nên, một quốc gia hạnh phúc là quốc gia mà ở đó người dân được quyền tự do chính trị, được quyền bầu ra chính phủ mà người dân tin rằng sẽ bảo vệ các quyền tự do kinh tế. Tại đó, con người được cởi trói khỏi những gọng kìm, được tự do đưa ra quyết định của riêng mình, theo đuổi lý tưởng của bản thân, theo đuổi những ước mơ hằng ấp ủ, và có thể sống một cuộc sống mà mình mong muốn.

Chú thích:

[1] Trong bảng xếp hạng của World Happiness 2014-2016, năm nước đứng đầu gồm Na Uy, Đan Mạch, Iceland, Thụy Điển, Phần Lan đều là các quốc gia Bắc Âu; năm nước cuối bảng là Rwanda, Syria, Tanzania, Burundi, Cộng hòa Trung Phi đều là những quốc gia có nền kinh tế yếu kém. Theo World Happiness Report 2017, trang 22, 23, 24.

[2] Dân Venezuela tìm thức ăn ở bãi rác – Zing News.

[3] Venezuela có trữ lượng dầu thô lớn nhất thế giới: xem List of countries by proven oil reserves.

[4] So sánh Hàn Quốc và Triều Tiên (South v North Korea: how do the two countries compare? Visualised) – The Guardian.

[5] Vietnam GDP Growth (annual %) – World Bank.

[6] Định nghĩa năm 2008 về ‘tự do kinh tế’ trong ‘chỉ số tự do kinh tế’ bởi Heritage Foundation. Nguyên văn: “the highest form of economic freedom provides an absolute right of property ownership, fully realized freedoms of movement for labor, capital, and goods, and an absolute absence of coercion or constraint of economic liberty beyond the extent necessary for citizens to protect and maintain liberty itself”.

[7] Economic Freedom and Environmental Quality, trang 80, đoạn 4, dòng thứ tư từ “When property rights were well protected… key health advantage”.

[8] A Free Economy Is a Clean Economy: How Free Markets Improve the Environment, trang số 5.

[9] Trần Trọng Kim (2010), Việt Nam sử lược, Nhà xuất bản Thời đại, trang 527.

[10] Câu nói của Milton Friedman khi trao đổi với Young America’s Foundation về tự do chính trị và tự do kinh tế. Milton Friedman giải thích mối quan hệ giữa tự do chính trị và tự do kinh tế từ giây 0:04 – 0:20.

Chia sẻ bài viết:

3
Leave a Reply

avatar
1000
2 Bình luận
1 Phản hồi
1 Người theo dõi
 
Bình luận sôi nổi nhất
Bình luận hay nhất
3 Bình luận của tác giả
Trung VõNghiên cứu Kinh tếDuc Nguyen Bình luận gần đây của tác giả
  Đăng ký  
Mới nhất Cũ nhất Hàng đầu
Thông báo cho tôi khi có
Duc Nguyen
Độc giả
Duc Nguyen

Bài viết rất hay, đầy đủ, cụ thể, rõ ràng. Cám ơn tác giả

Trung Võ
Độc giả
Trung Võ

Không biết Page có thể viết 1 bài phân tích cụ thể, trung lập và đa chiều về nền kinh tế của VNCH được không ạ? Mình xin cảm ơn!