Chính trị, Kinh tế

Đại suy thoái và những ngộ nhận

Chúng ta đều đã ít nhất một lần nghe qua về cuộc Đại suy thoái (Great Depression) trong giai đoạn 1929 – 1933, trọng tâm diễn ra ở Hoa Kỳ và ảnh hưởng lan rộng toàn cầu. Đây là cuộc sụp đổ đau đớn và tang thương nhất trong lịch sử kinh tế, tài chính thế giới: sản xuất trì trệ, ngân hàng đóng băng, thị trường chứng khoán tan nát, thất nghiệp tràn lan, nạn đói trên diện rộng, v.v. nhưng đồng thời cũng là cuộc khủng hoảng bị bóp méo, xuyên tạc nhiều nhất với những ngộ nhận kinh điển được truyền từ năm này sang năm khác qua hai lớp nhồi sọ kinh tế và lịch sử. Dưới góc nhìn của một người theo trường phái kinh tế Áo (Austrian economics) [1] – trường phái duy nhất có khả năng đưa ra một lời giải thích xác đáng, xin được giải ảo về nguyên nhân cũng như những ngộ nhận về cuộc Đại suy thoái.

1. Sự thất bại của thị trường tự do (Lassez-faire) và sự can thiệp của chính phủ

Chi tiêu của Liên bang theo năm tài chính
Chi tiêu của Liên bang theo năm tài chính

Ngộ nhận đầu tiên, là thị trường tự do đã thất bại trong việc phân bổ tài nguyên, tổ chức xã hội một cách đúng đắn, chính phủ, nhân danh người dân – thành phần chịu thiệt thòi, phải can thiệp để tái cơ cấu nền kinh tế. Hãy bình tĩnh quan sát nền kinh tế Hoa Kỳ ở những năm trước đó, giai đoạn 1920 – 1929. Người phải chịu trách nhiệm cho cuộc khủng hoảng, Herbert Hoover, được miêu tả là một người ngoài để mặc thị trường tự do tự điều tiết, đã không làm bất cứ điều gì. Trên thực tế Hoover không phải là một người đại diện cho tự do kinh tế. Công thức cho nền kinh tế trong những năm nhiệm kỳ của Hoover là chi tiêu công + tăng thuế + ban hành luật để chèn ép thị trường. Ông ta liên tục làm tăng thâm hụt ngân sách bằng những dự án mà hiệu quả gần như bằng không, tăng thuế lên mức kỷ lục 63%, và chưa hết, ban hành những điều luật quái đản như giới hạn sa thải, ngăn giảm lương [2]. Lùi lại một chút vào ‘những năm 20 thịnh vượng’, đặc biệt dưới gần 2 nhiệm kỳ của người tiền nhiệm Calvin Coolidge, tăng thuế má hay chi tiêu công gần như là một điều xa xỉ. Hay trong cuộc khủng hoảng 1920 – 1921, đây mới chính xác là giai đoạn thị trường tự do được tự do để tái cơ cấu nền kinh tế, khủng hoảng đến rồi đi chỉ tính bằng tháng, và các nhà Keynesian đã bất lực trong việc tìm ra câu trả lời làm sao nó có thể phục hồi một cách thần kỳ như vậy mặc dù khởi đầu cho cuộc khủng hoảng đó trông còn tệ hơn cả cuộc Đại suy thoái. Chính phủ giai đoạn đó đã làm đúng những gì nó cần làm: đừng làm gì cả [3]. Những sử gia cánh tả hay những nhà kinh tế Keynes luôn lặp lại điệp khúc “chính phủ đã can thiệp cứu nền kinh tế”, nhưng không nói chính phủ chính là nguyên nhân của mọi vấn đề.

Franklin Roosevelt: “Không phải rằng hệ thống kinh doanh tự do lấy lợi nhuận làm mục đích đã bị thất bại hoàn toàn ngay trong trong thế hệ này, mà là cương lĩnh đó chưa bao giờ được đem ra thực thi” [4].

2. Tín dụng lỏng lẻo và khủng hoảng thừa

Khủng hoảng thừa’ cũng là cụm từ được nhắc đến liên tục như là một nguyên nhân dẫn tới đại suy thoái, và đây cũng là một đối tượng hữu dụng để xoáy sâu vào quan điểm thị trường đã bất lực. Có thực là như vậy không? Hãy nhìn vào những ngành có sản phẩm mà kinh tế Hoa Kỳ đã dư thừa trong giai đoạn đó: khai thác than, sản xuất thép, cơ khí, cơ sở hạ tầng – bất động sản, công nghiệp nặng, v.v. Đây đều là những ngành xa xỉ, vượt xa so với nhu cầu tiêu dùng của thị trường. Việc một doanh nghiệp tham gia vào các nhóm ngành đó là điều bình thường, vài doanh nghiệp bước chân vào cũng là điều bình thường, nhưng làm sao để gần như tất cả các doanh nghiệp tập trung vào các nhóm ngành đó lại là điều đáng bàn. Xác suất các nhà đầu tư “đồng loạt ngu” là cực kì thấp nếu không muốn nói là bất khả. Vấn đề ở đây là: họ đã bị tập trung vào một hướng đi và sụp đổ trên chính hướng đi đó. Trong điều kiện thị trường bình thường, doanh nghiệp sẽ luôn bị khống chế bởi cung – cầu cũng như tín dụng để đưa ra quyết định đầu tư hay không. Nếu anh đưa ra quyết định đầu tư sai? Anh ta sẽ bị phá sản. Một doanh nghiệp phá sản là hậu quả của việc anh ta đã không có được sự phán đoán chính xác về nhu cầu thị trường. Nhưng làm sao hàng loạt doanh nghiệp lại có thể đồng loạt phá sản, trong cùng một thời điểm, trong cùng một số nhóm ngành nhất định? Câu trả lời chỉ có thể là họ đã bị đánh lừa bởi lãi suất tín dụng nhân tạo được thao túng bởi Cục dự trữ Liên bang (Federal Reserve System, FED) đã phản ánh sai nhu cầu về thị trường cũng như nền kinh tế, và chính phủ chính là tác giả của việc đầu cơ đó bằng việc ép lãi suất thấp một cách giả tạo để lôi kéo hàng loạt doanh nhân vào vòng xoáy đầu tư điên cuồng. Kết quả là cung vượt quá cầu, dẫn đến thừa mứa sản phẩm, nền kinh tế bị kéo theo hai hướng khác nhau, cuối cùng sự sụp đổ sẽ tới [5].

3. Lạm phát và sự cứu rỗi các công ty quốc doanh

Cung tiền tệ trong thời kỳ Đại suy thoái
Cung tiền tệ trong thời kỳ Đại suy thoái

Khi một doanh nghiệp phá sản, đó là hậu quả anh ta phải gánh chịu khi phán đoán sai về nhu cầu thị trường cũng như những lỗ hổng trong dịch vụ và hàng hóa. Phá sản là điều cần thiết nên xảy ra để doanh nghiệp đó nhìn lại những sai lầm của mình và thay đổi [6]. Một quan điểm quái dị của chính phủ cho rằng phá sản là thảm họa, và lựa chọn là cứu trợ những công ty phá sản trong giai đoạn đó nếu là công ty quốc doanh, hoặc quốc hữu hóa nếu là công ty tư nhân. Nhưng chính phủ bản chất không có tiền, không có một xu, vậy số tiền cứu trợ đó ở đâu? Chỉ có ba con đường, là từ nợ công, thuế và lạm phát. Nguồn cung tiền của Mỹ tăng mạnh kể khi FED được thành lập, đặc biệt cung tiền đã tăng 55% tại năm 1929 so với năm 1921. Giai đoạn từ 1929-1933 cung tiền có xu hướng giảm nhẹ, các nhà Keynesian hay Monetarist đã dựa vào đây để đánh lận con đen, quy chụp nguyên nhân suy thoái cho giảm phát, nhưng họ đã cố tình lờ đi giai đoạn 1913-1929. Kết quả của việc in tiền cứu trợ là các công ty đáng ra phải phá sản tiếp tục tồn tại và “tiền là thứ được tìm ra trong mọi ngõ ngách” của nền kinh tế.

Trên thực tế, kinh tế Hoa Kỳ đã thăng tiến mạnh mẽ trong giai đoạn 1920 – 1929 với chính phủ tối thiểu, trừ lĩnh vực tài chính. FED, với chính sách tài khóa và tiền tệ điên rồ đã tăng nguồn cung tiền chóng mặt, đây là xu thế mà chính quyền Coolidge chỉ có thể làm chậm lại chứ không thể đảo ngược. Giá cả bình ổn trong giai đoạn đó, và các sử gia cũng như nhà kinh tế Keynes cho rằng tỷ lệ lạm phát trong giai đoạn 1920 – 1929 ở mức thấp và rất thấp, nhưng đúng ra đã phải có một cuộc giảm phát mạnh mẽ mà nó đáng phải có, một kết quả giảm giá tương ứng khi nguồn cung tăng mạnh. Như một hệ quả của chính sách tiền tệ và tài khóa thiếu kiểm soát, sàn chứng khoán tại phố Wall lật nhào vào thứ Năm đen tối, ngày 24 tháng 10 năm 1929, mở đầu cho cuộc Đại suy thoái. Sau đó, toàn bộ hệ thống tín dụng ở Hoa Kỳ – ngân hàng, các tài khoản lưu ký chứng khoán, các khoản thanh toán bảo hiểm và nợ chiến tranh sau WW1 – tất cả đồng loạt phá sản.

4. Franklin Roosevelt và New Deal

Franklin Roosevelt
Franklin Roosevelt

Franklin Roosevelt luôn xuất hiện như một người anh hùng cứu rỗi cả một đất nước cùng với chính sách Kinh tế mới (New Deal). Nhưng mấy ai biết rằng New Deal đã biến Hoa Kỳ thành một quốc gia gần như hoạt động với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung? Mặc dù so với châu Âu trong cùng thời điểm thì kinh tế Hoa Kỳ mang tính thị trường nhiều hơn, nhưng sự bành trướng can thiệp của chính phủ đã bao trùm gần như toàn bộ nền kinh tế. Chính xác Roosevelt đã làm y hệt công thức của Hoover nhưng với mật độ và cường độ dày đặc hơn, ác liệt hơn thông qua Ủy ban Phục hồi Kinh tế Quốc gia Hoa Kỳ (National Recovery Administration, NRA), thể hiện ở hàng loạt doanh nghiệp tư nhân bị quốc hữu hóa, thành lập công đoàn; chống công ty tư nhân “độc quyền”; tăng thuế, mức cao nhất lên tới 90%; quân sự hóa nền kinh tế phục vụ chiến tranh; độc quyền giá cả, ép giá sản phẩm toàn quốc lên cao, thậm chí phá bỏ sản phẩm để giữ giá; ban hành các bộ luật cấm đoán trong nhiều mặt hàng ở phạm vi liên bang, v.v. Sau hai năm áp dụng thất bại, NRA, New Deal cũng những chỉ thị, mệnh lệnh của nó đã bị các tòa án loại bỏ.

Một biện minh cho nền kinh tế dưới thời Roosevelt là GDP cũng như tỷ lệ thất nghiệp được cải thiện đáng kể, và đây cũng là một cú lừa ngoạn mục khác, sẽ giải thích cụ thể hơn ở bên dưới.

5. GDP và tỷ lệ thất nghiệp

Thời kỳ Đại suy thoái
Thời kỳ Đại suy thoái

Trước hết, xin được khẳng định, GDP không phải là thước đo cho sự thịnh vượng của nền kinh tế, trái lại nó còn làm biến dạng tầm nhìn của chúng ta về kinh tế [7].

GDP sau khi áp dụng New Deal tăng 13%, cũng như tỷ lệ thất nghiệp giảm mạnh so với trước đó (18%). Vấn đề này nên được nhìn nhận kỹ càng hơn, cụ thể:

Thứ nhất, khi chính phủ độc quyền giá cả cũng như quân sự hóa kinh tế, GDP vốn dĩ đã không chính xác lại càng không chính xác hơn. Lấy ví dụ độc quyền giá cả, nếu chính phủ quy định 1 rổ trái cây giá 1 triệu USD, khi đó GDP, bằng các phương pháp hoạch toán, sẽ cho đó là 1 triệu USD tăng trưởng. Có thật là tăng trưởng không? Trong thị trường tự do quy luật cung – cầu sẽ bảo đảm cho một thỏa thuận giá cả hợp lý, khi chính phủ đã thao túng giá cả, con số đó không hề chính xác và đáng tin một chút nào. Nhìn vào thực tế, cuộc sống của người dân không hề khá lên tí nào chứ đừng nói là tương đương với bức tranh mà GDP đã vẽ ra.

Thứ hai, sản phẩm quân sự đã bóp méo hoàn toàn GDP. Gần 40% GDP là sản phẩm phục vụ chiến tranh, người dân được hưởng lợi từ súng ống, bom đạn và các khí tài quân sự khác không? Không hề. Đây là một ngộ nhận kinh điển tương tự với Đức Quốc Xã cũng như Liên bang Soviet. Nếu quân sự hóa nền kinh tế là đúng đắn và GDP phản ánh chính xác nền kinh tế, người dân Soviet cũng như Đức Quốc Xã đã có đời sống vật chất phong phú và thịnh vượng, nhưng thực tế hoàn toàn ngược lại. Tương tự, nếu nhìn vào GDP cuối năm 1990 mà đánh giá không ai có thể nghĩ Liên bang Soviet có thể sụp đổ ngay vào năm sau được cả.

Thứ ba, tỷ lệ thất nghiệp được cải thiện, nhưng số lượng việc làm được nâng cao nhiều nhất là đi lính, khi gần 30% trong số những người có việc làm mới phải nhập ngũ. Điều đó không những không phục vụ sản xuất mà còn hút thêm tài nguyên từ các ngành khác để hỗ trợ cỗ máy chiến tranh. Hình ảnh so sánh cụ thể nhất là của Adam Smith, khi so sánh người nông dân với người lính: trong khi người nông dân tiêu dùng để phục vụ lao động, họ tạo ra thêm của cải vật chất; nhưng một người lính nếu cũng tiêu dùng từng đó anh ta không hề tạo thêm bất cứ của cải nào, trái lại còn hút nguồn tài nguyên dành cho những lĩnh vực tiềm năng hơn để hỗ trợ anh ta trên chiến trường cũng như khí tài quân sự [8].

Roosevelt cùng New Deal, tất nhiên, đã bất lực trong việc vực dậy nền kinh tế. Kinh tế của Hoa Kỳ chỉ có thể phục hồi khi bãi bỏ các chính sách và cắt giảm chi tiêu công, đó là lúc thị trường tự do thực hiện vai trò của nó [9]. Trường phái kinh tế Áo, không phải Keynes, cũng không phải Trọng tiền (Monetarism), là trường phái duy nhất có thể đưa ra câu trả lời chính xác nhất cho các cuộc suy thoái. Lịch sử chưa bao giờ chứng kiến một cuộc khủng hoảng nào bắt nguồn từ sự yếu kém của kinh tế tư nhân cũng như thị trường. Các chu kỳ tăng trưởng – suy thoái giả tạo luôn luôn bắt đầu bởi chính phủ như bơm một trái bong bóng, thổi phồng nó và sau đó vỡ tan bằng một cuộc sụp đổ đau đớn.

CHÚ THÍCH

[1] Vui lòng phân biệt trường phái kinh tế Áo (Austrian school) và trường phái kinh tế Chicago (Chicago school) vì những điểm tương đồng thường thấy ở hai trường phái này.

The Chicago School versus the Austrian School, Robert P. Murphy, Mises Institute.

[2] Chương 7, Phần III, America’s Great Depression, Murray N. Rothbard (hoặc bản tóm tắt Hoover’s Attack on Laissez-Faire, Mises Institute).

Did Hoover Really Slash Spending?, Robert P. Murphy, Mises Institute.

Tác phẩm Interventionism: An Economic Analysis của Ludwig von Mises có thể coi là một hệ thống lập luận đầy đủ và hoàn chỉnh nhất giải thích vì sao các biện pháp can thiệp nêu trên luôn luôn thất bại và dẫn tới suy thoái kinh tế.

[3] The Surprising Answer for How to Handle The Next Recession, Lawrence White, Learn Liberty.
The Depression You’ve Never Heard Of: 1920-1921, Robert P. Murphy, FEE.
Coolidge: The Best President You Don’t Know, Amity Shlaes, PragerU.

[4] Nguyên văn: “It is a program whose basic thesis is not that the system of free private enterprise for profit has failed in this generation, but that it has not yet been tried.” – trích từ bài phát biểu của Franklin Roosevelt đến Quốc hội, bàn về sự tập trung quyền lực kinh tế vào tay nhà nước, ngày 29/04/1938.

[5] Chi tiết về vấn đề này vui lòng tham khảo Thuyết chu kỳ kinh tế của trường phái Áo và Định luật về sản xuất hàng hóa của Jean-Baptiste Say (Định luật Say) để hiểu vì sao không bao giờ tồn tại khủng hoảng thừa trừ phi có can thiệp đến từ chính phủ.

[6] Phá sản – Cách tốt nhất để cải cách các doanh nghiệp, Ku Búa, Cafe Ku Búa.

[7] How GDP Metrics Distort Our View of the Economy, Christopher P. Casey, Mises Institute.

[8] An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations, Adam Smith.

[9] Xin lưu ý, nền kinh tế của Hoa Kỳ ở giai đoạn này không phải là nền kinh tế thị trường tự do thuần túy, chỉ là “tự do” hơn so với giai đoạn ban hành New Deal. Roosevelt đã để thị trường hoạt động trở lại nhưng vẫn giữ những kiểm soát ở tầm vĩ mô (đặc trưng của trường phái Keynes). Hay nói cách khác, Hoa Kỳ đã áp dụng nền kinh tế hỗn hợp trong đó thị trường được hoạt động trong phạm vi kiểm soát của chính phủ, bên cạnh đó chính phủ nắm giữ những mắt xích quan trọng và điều tiết những ngành khác. Chính sách này hầu như không có nhiều thay đổi từ thời Franklin Roosevelt tới Jimmy Carter, thường được gọi là “New Deal được cải tổ” hay “tư bản nhà nước”.


TƯ LIỆU THAM KHẢO

Meltdown: A Free Market Look at Why the Stock Market Collapsed, the Economy Tanked, and Government Bailouts Will Make Things Worse, Thomas E. Woods Jr.

The Commanding Heights: The Battle for the World Economy, Daniel Yergin & Joseph Stanislaw.

America’s Great Depression, Murray N. Rothbard.

Free to Choose, Milton Friedman.

Cùng các bài tiểu luận kinh tế từ: Foundation of Economics Education (FEE), Mises Institute, PragerU, Cafe Ku Búa.


Một số luận điểm và lập luận ở đây có thể được dùng để giải thích tương tự cho các cuộc khủng hoảng kinh tế khác, như bong bóng CNTT Dot-com năm 2000 hay cuộc tổng suy trầm năm 2008 xuất phát từ lĩnh vực bất động sản, vì về bản chất căn nguyên của những cuộc khủng hoảng này không có nhiều khác biệt.

Hy vọng các bạn sẽ tiếp nhận bài viết này với tinh thần phê phán và khai phóng. Xin cám ơn.


Nguyễn Việt Hải Triều.

Chia sẻ bài viết:

Leave a Reply

Hãy là người đầu tiên bình luận cho bài viết này!

Thông báo cho tôi khi có
avatar
1000
wpDiscuz