Chứng khoán

Cổ phiếu ưu đãi là gì? Ưu điểm và phân loại cổ phiếu ưu đãi

Cổ phiếu ưu đãi là một loại chứng khoán lai tạp có những đặc điểm vừa giống cổ phiếu thường, vừa giống trái phiếu. Đó là một giấy chứng nhận cổ đông được ưu tiên so với cổ đông thường về mặt tài chính, nhưng bị hạn chế về quyền hạn đối với công ty góp vốn, như: người giữ cổ phiếu ưu đãi không được tham gia ứng cử, bầu cử vào Hội đồng quản trị hoặc Ban kiểm soát công ty, nhưng lại được ưu tiên chia cổ tức trước cổ đông thường, ưu tiên được trả nợ trước cổ đông thường khi thanh lý tài sản trong trường hợp công ty bị phá sản.

Đặc điểm của cổ phiếu ưu đãi

  • Đặc điểm giống cổ phiếu thường

Cổ phiếu ưu đãi cũng là chứng khoán vốn không có kỳ hạn và không hoàn vốn. Người nắm giữ cổ phiếu ưu đãi cũng là cổ đông đồng sở hữu công ty.

Vốn góp vĩnh viễn: người mua cổ phiếu ưu đãi được xem là cổ đông của công ty, do đó phần vốn góp qua việc mua cổ phiếu là mua vĩnh viễn không được hoàn trả. Nhưng khi cần tiền, họ có thể đem bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán để lấy lại vốn góp bằng giá bán trên thị trường. Giá bán này tùy thuộc vào mệnh giá cổ phiếu, tỷ suất cổ tức và giá trị thị trường của công ty tại thời điểm bán.

  • Đặc tính giống trái phiếu

Cổ tức của cổ phiếu ưu đãi được ấn định theo một tỷ lệ cố định trên mệnh giá. Cổ phiếu ưu đãi giống như trái phiếu, chúng được ấn định một tỷ lệ lãi cố định tính trên mệnh giá.

D = d% x F

Ví dụ: Công ty X có phát hành loại cổ phiếu ưu đãi mệnh giá $100, với phần chia lãi cố định 8.5%/năm trên mệnh giá. Điều đó có nghĩa, hằng năm, người cầm cổ phiếu ưu đãi được hưởng cổ tức $8.5 trên một cổ phiếu. Tùy theo loại cổ phiếu ưu đãi mà cổ tức này sẽ được tính gộp hay không tính gộp lãi ở các năm công ty làm ăn không có lãi để trả lãi hay không trả đủ lãi.

Nhưng khi việc mất khả năng trả nợ cho trái chủ có thể dẫn đến tình trạng phá sản của một công ty, thì việc mất khả năng chi trả cổ tức cho cổ phiếu ưu đãi vài năm lại được xử lý theo kiểu dàn xếp nội bộ. Tùy theo loại cổ phiếu ưu đãi mà công ty có những khả năng ứng xử thích hợp: có thể chuyển cổ đông này sang cổ đông thường hoặc gia tăng quyền hạn của cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi như quyền được tham gia bầu cử Hội đồng quản trị mới.

Việc trả cổ tức cho cổ đông ưu đãi là việc phân phối lợi nhuận trong nội bộ công ty, chính sách phân phối này linh hoạt và mềm dẻo tùy theo tình hình kinh doanh của công ty, cổ tức này có thể trả đủ hay không trả đủ. Hơn nữa, phần cổ tức không trả đủ có bảo lưu hay không bảo lưu cũng tùy vào loại cổ phiếu ưu đãi.

Các loại cổ phiếu ưu đãi

  • Cổ phiếu ưu đãi tích lũy (Accumulative Preferred Stock)

Cũng là một loại cổ phiếu ưu đãi hưởng cố tức theo lãi suất cố định, nhưng trong trường hợp công ty làm ăn không có lãi để trả cổ tức hoặc trả không đủ lãi cổ phần, thì phần còn thiếu năm nay sẽ được tích lũy sang năm sau hay vài năm sau khi công ty có đủ lợi nhuận để trả. Nếu nợ cổ tức tích lũy lãi đến lúc công ty có lãi sẽ dành ra phần lãi ưu tiên trả cho cổ phiếu ưu đãi trước khi trả cho cổ đông thường.

  • Cổ phiếu ưu đãi không tích lũy (Non Accumulative Preferred Stock)

Khác với cổ phiếu ưu đãi tích lũy ở chỗ lãi cổ phần thiếu sẽ được bỏ qua và chỉ trả đủ cổ tức khi công ty làm ăn có lãi. Loại này vì có tính rủi ro hơn nên suất cổ tức cũng cao hơn.

  • Cổ phiếu ưu đãi tham dự chia phần (Participating Preferred Stock)

Cổ đông của loại cổ phiếu này ngoài phần cổ tức được chia cố định, khi công ty làm ăn có lãi nhiều, sẽ được cùng với cổ đông thường tham dự vào phần chia số lợi nhuận còn lại sau khi công ty đã hoàn thành các nghĩa vụ đối với chủ nợ, đối với ngân sách Nhà nước, đối với cổ đông ưu đãi và đã trích vào quỹ phát triển công ty, để hưởng thêm một phần lợi tức phụ trội (Extra Dividend).

Ví dụ: Công ty cổ phần H ngoài số cổ phiếu phổ thông có phát hành các loại cổ phiếu ưu đãi sau đây với tỷ lệ cổ tức quy định:

– Cổ phiếu ưu đãi có tích lũy cổ tức 8%.
– Cổ phiếu ưu đãi không tích lũy cổ tức 10%.
– Cổ phiếu ưu đãi tham dự chia phần 8%, loại này không tích lũy.

Tình trạng kinh doanh của công ty qua các năm như sau:

Năm 2003, công ty gặp khó khăn, phần lãi ròng không có, do đó, không có nguồn để trả cố tức cho cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu thường.

Năm 2004, tình trạng kinh doanh có tiến bộ hơn nhưng công ty chỉ có khả năng trả cổ tức cho cổ phiếu ưu đãi 50% cổ tức đã quy định.

Năm 2005, công ty làm ăn phát đạt, dành ra một quỹ để trả hết phần cổ tức còn thiếu cho cổ đông ưu đãi tích lũy, trước khi trả cổ tức theo quy định cho cổ phiếu ưu đãi và trả cổ tức cho cổ phiếu thường 5% mệnh giá.

Năm 2006, công ty tiếp tục tăng trưởng nên trả đầy đủ các khoản cổ tức theo quy định cho cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu thường được hưởng cổ tức 20% trên mệnh giá. Sau khi trích quỹ số lợi nhuận dôi ra được chia đều cho số cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi tham dự, mỗi cổ phần được thêm 2,000đ.

Chúng ta có kết quả phân phối cổ tức theo bảng sau:

Năm Tình trạng kinh doanh Cổ phiếu ưu đãi tích lũy 8% Cổ phiếu ưu đãi không tích lũy 10% Cổ phiếu ưu đãi tham dự 8% Cổ phiếu thường
2003 Khó khăn 0 0 0 0
2004 Lợi nhuận ít 4% 5% 4% 0
2005 Lợi nhuận khá 20% 10% 8% 5%
2006 Lợi nhuận nhiều 8% 10% 8% + 2,000đ 20% + 2,000đ
  • Cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường (Convertible Preferred Stock)

Loại cổ phiếu này theo quy định có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường theo một tỷ lệ chuyển đổi hoặc giá chuyển đổi đã ấn định trước.

Người cầm loại cổ phiếu ưu đãi này sẽ thực hiện việc chuyển đổi khi giá thị trường của cổ phiếu thường tăng cao.

  • Cổ phiếu ưu đãi có thể chuộc lại (Callable Preferred Stock)

Một số công ty trong tình trạng khẩn cấp cần một số vốn lớn trong một thời gian ngắn nên phát hành loại cổ phiếu ưu đãi với mức lãi suất cao để thu hút nhà đầu tư. Nhưng loại cổ phiếu ưu đãi này theo quy định có thể được chuộc lại bởi công ty sau một thời hạn ấn định, khi tình hình tài chính công ty đã khá hơn. Khi chuộc lại, công ty sẽ phải trả một khoản tiền thưởng nhất định theo một tỷ lệ trên mệnh giá cổ phiếu cho chủ sở hữu.

Ví dụ: Chứng khoán T phát hành cổ phiếu ưu đãi với tỷ lệ chuyển đổi ½ cổ phiếu này có mệnh giá 100,000đ. Hiện nay công ty đề nghị chuộc lại với giá 110,000đ và trên thị trường giá cổ phiếu thường đang là 180,000đ. Hãy tính toán các khả năng nhà đầu tư có thể thực hiện để tìm kiếm lợi nhuận chênh lệch giá.

Chuyển đổi cổ phiếu ưu đãi thành cổ phiếu thường: Với tỷ lệ chuyển đổi ½ thì giá trị chuyển đổi của cổ phiếu ưu đãi bằng giá thị trường của cổ phiếu thường nhân (x) với tỷ lệ chuyển đổi.

180,000 x ½ = 90,000đ.

– Giá này thấp hơn mệnh giá của cổ phiếu ưu đãi nên không chuyển đổi.

– Nếu bán cho công ty với giá 110,000đ và giả sử nhà đầu tư đã mua cổ phiếu ưu đãi với giá bằng mệnh giá 100,000đ thì nhà đầu tư đã được hưởng chênh lệch giá là 10,000đ.

– Sau khi bán cho công ty, nhà đầu tư có thể dùng số tiền đó để mua cổ phiếu thường trên thị trường, giá thị trường là 180,000đ, thấp hơn giá chuyển đổi là 200,000đ (100,000đ x 2), nhà đầu tư được lời 20,000đ.

Các loại cổ phiếu ưu đãi theo Luật doanh nghiệp Việt Nam

Cổ phần ưu đãi gồm các loại sau đây:

  • Cổ phiếu ưu đãi biểu quyết

Cổ phần ưu đãi biểu quyết là cổ phiếu có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phiếu phổ thông. Số phiếu biểu quyết của một cổ phiếu ưu đãi biểu quyết do điều lệ công ty quy định. Chỉ số cổ đông sáng lập và tổ chức được chính phủ ủy quyền mới có quyền nắm giữ cổ phiếu ưu đãi biểu quyết. Sau 3 năm, cổ phiếu ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập sẽ trở thành cổ phiếu phổ thông. Cổ đông ưu đãi biểu quyết có các quyền và nghĩa vụ như cổ đông phổ thông nhưng không được chuyển nhượng cổ phiếu đó cho người khác.

  • Cổ phiếu ưu đãi cổ tức

Cổ phiếu ưu đãi cổ tức là cổ phiếu được trả cổ tức với mức cao hơn so với mức cổ tức của cổ phiếu phổ thông hoặc mức ổn định hàng năm. Cổ tức được chia hàng năm gồm cổ tức cố định và cổ tức thưởng. Cổ tức cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty; mức cổ tức cố định cụ thể và phương thức xác định cổ tức thưởng được ghi trên cổ phiếu của cổ phiếu ưu đãi cổ tức. Nếu mức cổ tức cố định thấp hơn mức cổ tức của cổ phần phổ thông thì sẽ có cổ tức thưởng. Cổ đông ưu đãi cổ tức có thể được hoàn lại phần tài sản còn lại tương ứng với số cổ phần góp vốn vào công ty khi công ty bị phá sản hoặc giải thể nhưng không được hội họp, biểu quyết, đề cử (nếu công ty hòa vốn hay lỗ khi không được nhận cổ tức).

  • Cổ phiếu ưu đãi hoàn lại

Cổ phiếu ưu đãi hoàn lại là cổ phiếu sẽ được công ty hoàn lại vốn góp bất cứ khi nào theo yêu cầu của người sở hữu, hoặc theo các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ phiếu ưu đãi hoàn lại. Cổ đông ưu đãi hoàn lại có thể chuyển nhượng cổ phiếu của mình nhưng không được hội họp, biểu quyết, đề cử.

Chia sẻ bài viết:

Leave a Reply

Hãy là người đầu tiên bình luận cho bài viết này!

Thông báo cho tôi khi có
avatar
1000
wpDiscuz