Chứng khoán

Các loại trái phiếu trên thị trường hiện nay

Nếu căn cứ vào chủ thể phát hành có thể chia trái phiếu ra làm hai loại: trái phiếu chính phủ (government bonds) và trái phiếu doanh nghiệp (corporate bonds).

Trái phiếu chính phủ

Trái phiếu chính phủ (Government Bonds) do ngân sách chính quyền trung ương hay địa phương phát hành nhằm mục đích bù đắp các khoản chi đầu tư của ngân sách Nhà nước, quản lý lạm phát, hoặc tài trợ cho các công trình, các dự án của Nhà nước.

Trái phiếu chính phủ là công cụ đặc biệt quan trọng và có hiệu quả để huy động vốn cho ngân sách nhà nước, góp phần tạo thế chủ động trong công tác quản lý và điều hành ngân sách nhà nước, hạn chế và đi đến chấm dứt việc phát hành tiền để bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước. Cụ thể là:

  • Thời kỳ 1991-1995 huy động từ trái phiếu chính phủ đạt bình quân 1.2% GDP, chiếm khoảng 30% tổng nguồn bù đắp bội chi ngân sách nhà nước.
  • Thời kỳ 1996-2000 huy động từ trái phiếu chính phủ đạt bình quân 2.5% GDP, chiếm khoảng 55% tổng nguồn bù đắp bội chi ngân sách nhà nước. Thời kỳ 2001 đến nay, huy động từ trái phiếu chính phủ đạt bình quân 4% GDP, chiếm khoảng 75% tổng nguồn bù đắp bội chi ngân sách nhà nước.

Ngoài bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước, trái phiếu chính phủ còn được sử dụng để huy động vốn cho các công trình kinh tế – xã hội của trung ương và địa phương như đường dây 500KV, thủy điện Yaly, khu đô thị Chí Linh, các công trình cơ sở hạ tầng ở các địa phương: Sài Gòn, Bình Thuận, Khánh Hòa, Cà Mau,…

Trái phiếu chính phủ tại Việt Nam theo năm phát hành

Năm phát hành Giá trị phát hành (ĐVT: triệu đồng) Tốc độ tăng/giảm
2000 1,100,000
2001 1,656,633 50.6%
2002 1,462,000 -11.7%
2003 8,953,000 512.4%
2004 11,811,700 31.9%
2005 20,883,680 76.8%
2006 33,862,145 62.1%
T2/2007 8,770,000
Tổng 88,499,158

Nguồn: Tổng hợp từ Internet

Trái phiếu chính quyền địa phương

Trái phiếu chính quyền địa phương là loại trái phiếu đầu tư có kỳ hạn từ một năm trở lên, do chính quyền địa phương ủy quyền cho kho bạc hoặc các pháp nhân do chính quyền địa phương lập ra, phát hành với mục đích huy động vốn để đầu tư xây dựng các công trình mang tính công cộng như đường xá, bến cảng, trường học, bệnh viện,…

Trái phiếu đô thị Thành phố Hồ Chí Minh là loại trái phiếu nợ chung. Trái phiếu này được đảm bảo thanh toán trực tiếp bằng nguồn ngân sách thành phố. Chủ thể phát hành là Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, tổ chức đại diện phát hành là Quỹ đầu tư phát triển đô thị Thành phố được Ủy ban Nhân dân ủy quyền thực hiện toàn bộ các nghiệp vụ và quy trình phát hành trái phiếu đô thị.

Tình hình phát hành trái phiếu đô thị TP.HCM từ 2003 đến hết 30/9/2006

ĐVT: tỷ đồng

Loại 2 năm 5 năm 10 năm 15 năm
SL LS SL LS SL LS SL LS
2003 200 8.52 1,800 9.0 2,000
2004 1,600 8.5-8.75 400 9.0 2,000
2005 600 9.0-9.5 700 9.54 1,300
2006 110 9.25 100 9.55 210
Tổng 200 4,000 510 800 5,510

Nguồn: Quỹ đầu tư đô thị TP.HCM

Trái phiếu doanh nghiệp

Trái phiếu doanh nghiệp (Corporate Bonds) do các doanh nghiệp phát hành (có đủ điều kiện của Ủy ban Chứng khoán) nhằm mục đích đầu tư dài hạn cho doanh nghiệp, mở rộng quy mô phát triển sản xuất kinh doanh.

Trái phiếu của công ty cổ phần rất đa dạng và phong phú về chủng loại đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của các nhà đầu tư, là nguồn vốn vay chủ yếu cho các công ty cổ phần ở các nước phát triển.

Một số loại trái phiếu doanh nghiệp phổ biến

  • Trái phiếu thu nhập (Income bonds)

Trái phiếu thu nhập là trái phiếu mà việc thanh toán lãi phụ thuộc vào mức thu lợi hằng năm của công ty, loại trái phiếu này thường được phát hành khi công ty gặp khó khăn về tài chính hay cần huy động vốn đầu tư vào các dự án. Tùy theo lợi nhuận công ty thu được sẽ trả lãi cho trái chủ; Tuy nhiên, tỷ lệ lãi không lớn hơn lãi suất quy định trên trái phiếu. Về mặt này loại trái phiếu này giống cổ phiếu ưu đãi nhưng nó khác ở chỗ tiền lãi trả cho trái phiếu thu nhập được khấu trừ thuế (trả trước thuế), còn đối với cổ phiếu ưu đãi thì không được khấu trừ (trả sau thuế).

  • Trái phiếu có thế chấp (Mortgage bonds)

Các doanh nghiệp muốn phát hành trái phiếu phải có thế chấp bằng tài sản hay chứng khoán. Người nắm giữ trái phiếu này được bảo vệ ở một mức độ cao bằng chính tài sản thế chấp trong trường hợp doanh nghiệp phá sản.

  • Trái phiếu không có thế chấp (Debenture)

Một số công ty lớn có tiếng tăm và uy tín trên thị trường quốc nội và quốc ngoại có thể phát hành trái phiếu mà không cần thế chấp. Bởi vì chính uy tín của công ty ấy đã là một đảm bảo có giá trị. Nếu công ty bị phá sản, người cầm trái phiếu này sẽ được trả nợ sau các trái chủ có đảm bảo bằng tài sản thế chấp, nhưng trước các cổ đông.

  • Trái phiếu có thể chuyển đổi (Convertible bonds)

Trái phiếu có thể chuyển đổi là loại trái phiếu có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường của công ty với giá của cổ phiếu được ấn định trước, gọi là giá chuyển đổi. Đây là loại trái phiếu rất được ưa chuộng bởi vì khi giá cổ phiếu tăng cao trên thị trường, người nắm giữ trái phiếu này sẽ thực hiện việc chuyển đổi và thu được những món lợi nhuận do chênh lệch giá.

Công ty phát hành trái phiếu chuyển đổi vì các lý do thuận lợi sau:

+ Trái phiếu chuyển đổi có thể bán ra với lãi suất thấp hơn lãi suất của trái phiếu, cổ phiếu thường.

+ Công ty có thể loại bỏ lãi suất cố định khi có sự chuyển đổi, vì thế giảm được số nợ.

+ Số cổ phiếu trong thị trường hiếm khi gia tăng nhanh vì sự chuyển đổi xảy ra trong khoảng thời gian dài (do đó ít gây ra sự loạn giá các cổ phiếu).

+ Công ty tránh được sự loãng trị giá tức thời số lợi nhuận cở bản của cổ phiếu.

Tuy nhiên, nhà phát hành cũng gặp phải các bất lợi sau:

+ Vốn cổ đông bị loãng vào thời điểm chuyển đổi.

+ Sự chuyển đổi nhiều sẽ làm thay đổi khả năng kiểm soát của công ty (khi đó khả năng bỏ phiếu tăng lên vì cổ phiếu thường tăng, do đó ảnh hưởng đến quyền kiểm soát công ty).

+ Số nợ của công ty giảm có nghĩa là công ty mất đòn bẩy tài chính (vì lúc đó nợ đã trở thành vốn cổ đông).

+ Công ty phải đóng nhiều thuế hơn khi có chuyển đổi.

+ Cơ cấu vốn của công ty không được ổn định như trước.

Nhà đầu tư chịu bỏ tiền mua trái phiếu chuyển đổi vì các thuận lợi sau:

+ Trái phiếu chuyển đổi chi trả tiền lãi cố định và sẽ được thu hồi theo đúng mệnh giá khi đến ngày đáo hạn.

+ Trái chủ ưu tiên đòi chi trả hơn trái chủ trái phiếu, cổ phiếu thường, trong trường hợp thanh lý công ty.

+ Giá thị trường của trái phiếu chuyển đổi có khuynh hướng ổn định hơn trong thời kỳ thị trường đi xuống khi so với cổ phiếu thường.

+ Giá thị trường của trái phiếu chuyển đổi có khuynh hướng tăng theo giá chứng khoán.

Cách tính giá chuyển đổi và tỷ lệ chuyển đổi

*Giá chuyển đổi (Conversion price): là giá của cổ phiếu thường mà trái phiếu chuyển đổi lấy làm căn cứ trong việc chuyển đổi.

Giá chuyển đổi =    Mệnh giá của trái phiếu chuyển đổi
   Tỷ lệ chuyển đổi

Ví dụ: Trái phiếu chuyển đổi của SSI có mệnh giá 100,000đ, quy định được chuyển đổi thành cổ phiếu thường của công ty với giá chuyển đổi bằng mệnh giá (10,000đ).

Tỷ lệ chuyển đổi = 100,000đ / 10,000đ = 10.

Có nghĩa là một trái phiếu đổi thành 10 cổ phiếu thường.

Trước đây, trên thị trường chứng khoán Việt Nam, một số nhà phát hành đã phát hành trái phiếu chuyển đổi thành công và được sự ủng hộ nồng nhiệt của giới đầu tư.

– Tháng 12/2005, VCB phát hành trái phiếu kèm quyền chuyển đổi.
– Quý 4 năm 2006, ACB phát hành 1,650 tỷ đồng trái phiếu chuyển đổi. Năm 2007 tiếp tục phát hành thêm 1,350 tỷ đồng trái phiếu chuyển đổi.
– Ngày 30/11/2006, Công ty Chứng khoán Saigon phát hành trái phiếu chuyển đổi cho các cổ đông hiện hữu với tỷ lệ chuyển đổi là 10.

  • Trái phiếu có thể chuộc lại (Callable Bonds)

Trái phiếu này có kèm điều khoản được công ty chuộc lại sau một thời gian với giá chuộc lại thường cao hơn mệnh giá. Nhà đầu tư có thể chọn lựa để chấp nhận sự chuộc lại của công ty hay không. Trái phiếu chuộc lại được công ty phát hành ra bởi một số các lý do sau:

– Khi công ty gặp khó khăn về tài chính hoặc cần huy động vốn nhanh cho các dự án đầu tư, công ty có thể phát hành trái phiếu với lãi suất hơi cao hơn mức lãi suất phù hợp với mức độ tín nhiệm của công ty. Trong trường hợp này, công ty dự trù sẽ thu hồi vốn và lãi phát sinh sau một thời gian, nên đưa ra điều khoản chuộc lại trái phiếu trước kỳ đáo hạn để tránh cho công ty gánh nặng phải trả lãi quá cao.

– Với tính chu kỳ của nền kinh tế, công ty có thể dự đoán trước được lãi suất thị trường sẽ giảm đi sau một thời gian. Vì thế, hiện nay công ty phát hành trái phiếu với lãi suất tương đối cao, nên kèm theo điều khoản chuộc lại trái phiếu, lúc đó lãi suất thị trường đã giảm đi, điều này tránh cho công ty thiệt hại về chi phí trả lãi quá cao.

  • Trái phiếu có lãi suất ổn định (Straight Bonds)

Đây là loại trái phiếu truyền thống, được phát hành phổ biến ở tất cả các thị trường chứng khoán trên thế giới. Với đặc điểm trả lãi suất ổn định và định kỳ thường 6 tháng hay 1 năm một lần, nó ràng buộc doanh nghiệp nghĩa vụ phải trả lãi trong suốt thời gian lưu hành trái phiếu.

  • Trái phiếu có lãi suất thả nổi (Floating Rate Bonds)

Đây là loại trái phiếu mà lãi suất của nó được điều chỉnh theo sự thay đổi của lãi suất thị trường. Đặc điểm này đã đảm bảo được quyền lợi của nhà đầu tư cũng như của doanh nghiệp khi thị trường tài chính tiền tệ không ổn định. Thông thường cứ 6 tháng một lẩn, căn cứ vào lãi suất tiền gửi ngắn hạn của ngân hàng lại điều chỉnh trái phiếu cho phù hợp.

  • Trái phiếu chiết khấu (Zero Coupon Bonds)

Đây là loại trái phiếu không trả lãi suất định kỳ, căn cứ vào lãi suất thị trường lúc phát hành để định ra giá của trái phiếu, giá này rất thấp so với mệnh giá gọi là giá chiết khấu, nhưng khi đáo hạn trái chủ lại được hoàn lại vốn gốc bằng với mệnh giá của trái phiếu.

  • Trái phiếu quốc tế (Foreign Bonds)

Đây là giấy nợ được chính phủ hoặc doanh nghiệp phát hành ra trên thị trường vốn quốc tế để huy động vốn đầu tư bằng ngoại tệ.

Chia sẻ bài viết:

Leave a Reply

Hãy là người đầu tiên bình luận cho bài viết này!

Thông báo cho tôi khi có
avatar
1000
wpDiscuz