Chính trị

Bretton Woods: Hội nghị năm ấy chúng ta không được dạy

Trong cuộc khủng hoảng đầu thập niên những năm 30, các quốc gia đã dần bãi bỏ bản vị vàng để mục đích hạ lãi suất đồng tiền, khuyến khích xuất khẩu nhiều hơn. Lý thuyết này được phát triển vào năm 1837 bởi nhà kinh tế Đức Friedrich List. Ông tranh luận rằng quốc gia nên bảo hộ nền công nghiệp nội địa, lý thuyết ngày nay được chứng minh là sai lầm bởi các hiệp định tự do thương mại. Việc này đã khiến cho việc hợp tác giữa các quốc gia vốn đã bị hạn chế, lại càng bị cản trở. Kết quả là sự bất bình đẳng đã dẫn đến chiến tranh thế giới lần hai.

bretton woodsSau khi Thế chiến I kết thúc, Hội nghị Bretton Woods tổ chức vào tháng 6/1944, trong ban cố vấn lúc đó bao gồm nhà kinh tế học Keynes. Ý tưởng của ông đã dẫn đến việc thành lập Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), cơ quan chịu trách nhiệm cung cấp những khoản tài trợ khẩn cấp. Trong khi đó, Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển (giờ là một phần của Ngân hàng Thế giới) được thành lập để cung cấp ngân sách cho các dự án phát triển. Năm 1947, Hiệp ước chung về Thuế quan và Mậu dịch (GATT), nhằm mục đích tái lập nền giao thương quốc tế, được ký kết.

Hay còn là hệ thống Bretton, hệ thống mà mọi đồng tiền neo tỷ giá vào đồng đôla được bảo chứng bởi vàng. Hệ thống này được giữ vững gần 30 năm, nhưng nó đã sai về mặt cấu trúc. Những thâm hụt thương mại liên tiếp của nước Mỹ đã giữ cho hệ thống này vận hành trơn tru, nhưng việc đồng đôla được thả nổi trên thị trường quốc tế cho đến khi dự trữ đôla toàn cầu lớn hơn dự trữ vàng của Mỹ, giá đôla dựa trên vàng cao hơn giá vàng cố định, khi chi tiêu chính phủ tăng (chủ yếu do Chiến tranh chống đói nghèo của Lyndon B. Johnson và Chiến tranh Việt Nam), mối ràng buộc trở nên tệ hơn, nước Mỹ bước vào thời kỳ lạm phát. Vào năm 1971, Tổng thống đã nghi ngờ mối liên kết giữa vàng và đôla. Theo lời khuyên của nhà kinh tế học Milton Friedman, bản vị vàng bị bãi bỏ, kết thúc hệ thống Bretton. Ngày nay, nước Mỹ dù vẫn là nhà dự trữ vàng lớn nhất toàn cầu nhưng kinh tế vĩ mô hoạt động dựa trên chính sách tiền tệ, tăng giảm lãi suất thông qua FED.

Nhưng trở lại giai đoạn hậu chiến, nhà kinh tế học Ba lan Paul Rosenstein-Rodan cho rằng nền kinh tế cần một cú thúc đẩy lớn về cả hạ tầng lẫn công nghiệp mà chỉ nhà nước mới làm được, các quốc gia phát triển nên tài trợ các dự án phát triển cho các nước kém phát triển hơn. Ý tưởng này bị tấn công mạnh mẽ vào thập niên 70 bởi Milton Friedman, vì nhiều lý do:

  1. Không phải chính phủ nào cũng có kế hoạch chi tiêu hợp lý.
  2. Động cơ chính trị khiến các khoản viện trợ không hoạt động đúng chức năng vốn có, nói gọn là lợi ích nhóm và tham nhũng.

Tình trạng này xảy ra phổ biến ở Việt Nam và rõ nhất là các BOT thu phí. Tuyến đường do Nhật hay Trung quốc hơn nhau ở chất lượng nhưng vẫn trên tinh thần ”không có cái gọi là bữa trưa miễn phí”. Công ty của chúng tôi phải được xây dựng hạ tầng cho các bạn đổi lại chúng tôi thu phí để lấy lại lợi nhuận. ODA không hoàn lại thật ra là ODA không cần trả ngay, nó sẽ được chi trả bởi người dân Việt Nam. Thay vì bạn đóng thuế để xây dựng cơ sở hạ tầng quốc gia, số tiền này bị thất thoát do chính phủ kém hiệu quả.

Vì sao kế hoạch Marshall chứng tỏ sức thành công ở Châu Âu? Câu trả lời là thể chế dân chủ và chính phủ minh bạch. Song điều đó vẫn không đủ để nước Đức – một quốc gia bại trận, hay Nhật Bản trả hết nợ chiến tranh sau mỗi kỳ đáo hạn. Câu trả lời là việc tiếp cận thị trường tự do đã chứng tỏ sức hiệu quả hơn mọi kế hoạch tái thiết.

Hơn nữa, mô hình này lại chứng minh tính đúng đắn với Đông Nam Á với việc tận dụng cơ hội thu hút đầu tư từ Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam.

Nói tóm lại, nếu Hội nghị Ianta có vai trò quan trọng trong sự thành lập Liên hiệp quốc và trật tự chính trị thế giới trong chiến tranh lạnh cho đến ngày nay, thì Hội nghị Bretton Woods cũng quan trọng không kém khi thiết lập các định chế kinh tế và các cơ quan tài chính.

Viet Conservative.

Chia sẻ bài viết:

Leave a Reply

avatar
1000
  Đăng ký  
Thông báo cho tôi khi có